Hân hoan chào đón quý PHHS tới thăm quan và tìm hiểu trường TiH,THCS,THPT Ngô Thời Nhiệm

(Trường Ngô Thời Nhiệm Theo mô hình trường Tư thục chất lượng cao)

Danh sách các CLB Năng Khiếu, Thể Chất - nơi ươm mầm những tài năng tương lai

PHHS quan tâm: Chất lượng dạy và học

Đầu vào không kén chọn, học sinh được xếp lớp theo trình độ và nguyện vọng. Tỉ lệ đậu tốt nghiệp THPT liên tục 100%, tỉ lệ đậu đại học cao đẳng từ 85% đến 95% trong đó đậu đại học từ 65% đến 71%.

Bề dày thành tích

Góc cờ truyền thống

PHHS quan tâm: Hoạt động xã hội

Nhận học và nuôi dưỡng 16 em từ Quỹ Vừ A Dính. Luôn đồng hành chung tay góp sức cho xã hội và Quỹ học bổng Vừ A Dính phát triển lớn mạnh

Tuyển sinh 2017 - 2018

Xe đưa rước

PHHS quan tâm: Hoạt động CLB

Các em được chọn, tham gia câu lạc bộ như Toán, Lý, Hóa, Tiếng Anh, MC - tổ chức sự kiện, Bơi lội, Bóng rổ, Bóng bàn, Cầu lông... để phát triển năng khiếu, sở trường

Chương trình học tập tại Úc

Chính sách học phí

PHHS quan tâm: Hoạt động ngoại khóa

Giúp các em giải tỏa căng thẳng trong việc học, tăng thêm tính chuyên nghiệp, khám phá bản thân, mở rộng tầm nhìn, tăng kỹ năng giao tiếp - ứng xử

Khu nội trú

Đồng phục học sinh

 

Gv Ánh Nguyệt - Thiết bị dạy học tự làm Bộ Tranh Tứ Long

Tên thiết bị dạy học tự làm: Bộ Tranh Tứ Long.

Tên tác giả :      Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

>> Hội thi đồ dùng dạy học tự làm cấp trường năm học 2016 - 2017

Lý do làm thiết bị dạy học: Do yêu cầu của một số bài Thường thức mĩ thuật học sinh phải nắm kiến thước về hình tượng con rồng Việt Nam qua các thời kỳ như: lớp 6 các em học rồng thời Lý, lớp 7 các em học rồng thời Trần, lớp 8 các em học rồng thời Lê, lớp 9 các em được giới thiệu về rồng thời Nguyễn. Giáo viên chỉ giới thiệu hình tượng rồng Việt Nam qua hình ảnh, chưa có đồ dùng là sản phẩm tượng hay phù điêu để cho học sinh sờ và cảm nhận tác phẩm nghệ thuật. Vì thế khi giảng dạy Tôi nhận thấy học sinh có nhớ một số kiến thức nhưng khi cho phân biệt, học sinh  khó phân biệt được đặc điểm rồng từng thời kỳ. Nhận thấy mục đích của việc giáo dục thường thức mĩ thuật nhằm giúp học sinh nắm bắt những kiến thức cơ bản về mĩ thuật ở các thời kỳ lịch sử trong nước và ngoài nước, nếu học sinh nhìn hình tượng rồng Việt Nam mà không phân biệt được thuộc thời kỳ nào, mà chỉ nói trên lý thuyết được có nghĩa học sinh chưa vận dụng được kiến thức đã học. Hiểu được khó khăn đó Tôi đã suy nghĩ và tìm tòi từ nguyên vật liệu mở trong cuộc sống hàng ngày như giấy, keo, sơn, ván ép để tạo thành thiết bị dạy học mang tên “ Bộ Tranh Tứ Long”. Nhằm giúp học sinh biết thêm:

+Phù điêu là như thế nào

+Biết thêm về hoạ tiết trang trí của dân tộc, đặc biệt là hình tượng con rồng Việt Nam.

+Giúp học sinh quan sát cảm nhận từ tác phẩm phù điêu thật và phân biệt được hình tượng con rồng Việt Nam qua các thời kỳ ( Thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn)

Trước đây giấy bồi là một chất liệu mà một số giáo viên đã sử dụng qua. Dựa trên chất liệu giấy bồi Tôi đã nghĩ và tạo ra chất dẻo kết dính làm thành “ Bộ Tranh Tứ Long” nhìn như chất liệu tranh đồng hay phù điêu đồng đắt tiền.

Quy trình thiết kế TBDH tự làm :

1. Nguyên tắc và cấu tạo:

Tranh gồm bốn bức tranh nhỏ có hình ảnh con rồng thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn ở Việt Nam và có thể ghép chung lại thành  một bức tranh lớp gồm bốn con rồng từng thời kỳ. Tranh được làm từ giấy tạo thành tác phẩm phù điêu, tương tự như tác phẩm phù điêu bằng đồng.

Nguyên vật liệu:

- Bốn tấm ván ép kích thước 40cm x 30 cm ( Có thể thay bằng bìa carton loại cứng hay ván gỗ)

- Một chai sơn xịt màu đen và một chai sơn xịt màu vàng đồng

- Sáu cuộn giấy vệ sinh loại thường (có thể thay bằng giấy lịch giấy báo loại mỏng)

- ½ bịch keo sữa ATM. (có thể thay bằng hồ nấu từ tinh bột)

- Bốn khung tranh kích thước 40cm x 30 cm,

- Một khung bố cũ đã sử dụng 80cm x100cm.

Cách làm:

- Bước 1: Vẽ bốn mẫu phác thảo hình rồng thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn ở Việt Nam. (Tư liệu hình ảnh từ sách giáo khoa Mĩ thuật 6,7,8 ,9 và internet ). Dựa trên mẫu phác thảo vẽ lên bốn tấm ván ép mỗi tấm ván một hình tượng con rồng Việt Nam.

Lưu ý: làm rõ đặc điểm hình tượng con rồng từng thời kỳ để học sinh phân biệt được sự khác nhau. Ví dụ:

Rồng thời Lý: Đó là con rồng thân tròn lẳng, khá dài và không có vẩy, uốn khúc mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Các nhà nghiên cứu gọi đây là rồng hình giun hay hình dây và điều đập vào mắt mọi người là nó mang hình dạng của một con rắn

Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.

Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủy phía sau và có móng giống chân loài chim

Rồng thời Trần: Thân rồng thời Trần vẫn giữ dáng dấp như thời Lý, với các đường cong tròn nối nhau, các khúc trước lớn, các khúc sau nhỏ dần và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc, nhưng không tựa đầu vào nhau như rồng thời Lý. Có khi vảy lưng có dạng hình răng cưa lớn, nhọn, đôi khi từng chiếc vẩy được chia thành hai tầng. Chân rồng thường ngắn hơn, những túm lông ở khủy chân không bay ra theo một chiều nhất định như rồng thời Lý mà lại bay lên phía trước hay phía sau tùy thuộc vào khoảng trống trên bức phù điêu. Và có sự xuất hiện chi tiết cặp sừng và đôi tay.

Đầu rồng không có nhiều phức tạp như rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không uốn nhiều khúc. Chiếc răng nanh phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi. Miệng rồng há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu.

Rồng thời Trần lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát, mạnh mẽ. Thân rồng thường mập chắc, tư thế vươn về phía trước. Cách thể hiện rồng không chịu những quy định khắc khe như thời Lý.

Rồng thời Lê: rồng có sự thay đổi hẳn, rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá. Răng nanh cũng được kéo dài lên phía trên và uốn xoăn thừng ở gốc. Lông mày vẫn giữ hình dáng biểu tượng ômêga, nhưng được kéo dài ra và đuôi vuốt chếch lên phía sau. Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại. Rồng có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thế thướng thấy ở các con rồng đời sau. Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước đó. Như vậy rồng mang dạng thú xuất hiện cuối đời Trần đã thấy phổ biến ở đời Lê Sơ nhưng vẫn còn mang dáng dấp truyền thống của loài rắn

Rồng thời Nguyễn: Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng. Ngày nay, hình tượng rồng tuy không còn mang tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật… Dù ở bất cứ thời điểm nào, rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

- Bước 2: Sau khi vẽ phác thảo, dùng 6 cuộn giấy vệ sinh ngâm với nước lạnh, dớt giấy ra vắt khô nước, phần bột giấy trộn với keo sữa ATM tạo thành bột kết dính vừa đủ dẻo để nặng thành hình dáng . Ủ hổn hợp bột giấy và keo qua đêm để keo và giấy dính lại và mịn hơn dễ nhàu nặng.

Bột giấy sau khi được vắt khô nước và Dùng bột giấy trộn với keo sữa

- Bước 3: Dùng hổn hợp bột giấy và keo sữa nặng hình dáng rồng thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn lên bốn tấm ván ép theo mẫu phác thảo đã vẽ rồi để nơi thoán mát cho tranh khô cứng lại.

Bước 4: Sau khi hình trên tranh khô, xịt sơn màu đen lên bốn bức tranh và dùng cọ quét sơn nhủ vàng lên những phần chính của bức tranh, phần phụ quét nhẹ một lớp sơn đồng tạo giống tác phẩm đúc đồng.

2. Lắp ráp và bố trí TBDH tự làm:

Phía sau bốn bức tranh đều có móc treo để tiện khi sử dụng riêng lẻ.

Bức tranh trên có thể kết nối với bức tranh bên dưới nhờ vào chốt gài tranh bên dưới với phần đinh ốc phía trên để có thể treo bức này dưới bức kia.

Ngoài ta có thể ghép bốn bức lên nền bố lớn bằng keo để cho học sinh so sánh nhận ra sự khác nhau giữa bốn hình tượng con rồng Việt Nam

Hướng dẫn khai thác và sử dụng:

Sử dụng: Làm đồ dùng trực quan, thiết bị dạy học này có thể tháo ra từng tranh để giảng dạy theo tiết chương trình, cũng có thể ghép 2 tranh hay 4 tranh thành một tranh để học sinh so sánh và phân biệt.

Sử dụng trong các bài: 

Khối 6:

Bài 1 vẽ trang trí: Chép học tiết trang trí dân tộc

Bài 9 thường thức mĩ thuật: Sơ lược về mĩ thuật Việt Nam thời Lý (1010-1225)

Bài 10 thường thức mĩ thuật: Một số công trình tiêu biểu mỹ thuật thời Lý

Khối 7:

Bài 1 thường thức mĩ thuật: Sơ lược về mĩ thuật Việt Nam thời Trần (1226-1400)

Bài 2 thường thức mĩ thuật: Một số công trình mỹ thuật thời Trần (1226-1400)

Khối 8:

Bài 2 thường thức mĩ thuật: Sơ lược về mĩ thuật thời Lê (từ thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XVIII )

Bài 3 thường thức mĩ thuật: Một số công trình tiêu biểu của mỹ thuật thời Lê

Khối 9:

Bài 1 thường thức mĩ thuật: Sơ lược về mĩ thuật thời Nguyễn (1802-1945)

- Bộ thiết bị này phù hợp với thực tế giảng dạy, giúp giáo viên thuận tiện khi sử dụng, sử dụng được nhiều lần, giá thành hợp lý vì lấy từ những chất liệu rẻ tiền và đồ tái chế đã sử dụng.

Những điểm cần lưu ý khi sử dụng, bảo quản:

Để nơi khô ráo thoáng mát, tránh đụng nước hoặc dùng khăn ướt lao vì chất liệu làm tranh là giấy. Nếu tranh bám bụi có thể dùng chổi lông gà hay khăn khô để quét bụi

Nếu qua thời gian 3 hoặc 4 năm tranh bị phai màu, chỉ cần dùng sơn phủ lên tiếp lớp sơn mới, chúng ta lại có bức tranh phù điêu đồng mới.

Đây là bộ đồ dùng mang tính trực quan cao, dễ sử dụng. Tranh phù điêu thật giúp HS khắc sâu kiến thức lịch sử mĩ thuật Việt Nam, tiết kiệm thời gian trong khâu giải thích. GV có thể vận dụng linh hoạt cho nhiều các bài. Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, cảm nhận các tác phẩm nghệ thuật nâng cao sự cảm thụ thẩm mĩ của của học sinh. Và quan trọng nhất là học sinh tự nhận biết giá trị nghệ thuật của mĩ thuật Việt Nam.

Sản phẩm đang trưng bày tại trường Ngô Thời Nhiệm Bình Dương

Gv Ánh Nguyệt - Thiết bị dạy học tự làm Bộ Tranh Tứ Long

 

Nguồn: 
Ban biên tập Ngô Thời Nhiệm

 

Trường TiH, THCS, THPT Ngô Thời Nhiệm Tp. HCM

  • Ngô Thời Nhiệm
    65D Hồ Bá Phấn, P.Phước Long A
    Q. 9, TP.HCM
  • Điện thoại: (84-8) 37310522
    Fax: (84-8) 37311523
  • truong@ngothoinhiem.edu.vn

Trường Ngô Thời Nhiệm phân hiệu

  • Ngô Thời Nhiệm
    300A Điện Biên Phủ, phường 17
    Q. Bình Thạnh, TP.HCM
  • Điện thoại: 08.3 8999830
    Fax: (84-8) 37311523
  • truong@ngothoinhiem.edu.vn

Trường Ngô Thời Nhiệm phân hiệu

  • Ngô Thời Nhiệm
    2A Phan Văn Trị, P.10
    Q. Gò Vấp, TP. HCM
  • Điện thoại: 08 6272 2525
    Fax: (84-8) 37311523
  • truong@ngothoinhiem.edu.vn

Trường TiH, THCS, THPT Ngô Thời Nhiệm Bình Dương

  • Ngô Thời Nhiệm
    Lô M2, Lý Thái Tổ, phường Hòa Phú
    TP. Thủ Dầu Một, Bình Dương
  • Điện thoại: 0274.3 88 0088
    Fax: 0274 37311523
  • truong@ngothoinhiem.edu.vn